Viêm tai giữa cấp tính, nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

viêm tai giữa cấp tính

Viêm tai giữa cấp tính.

Viêm tai giữa cấp tính là bệnh thường gặp, nhiều nhất ở trẻ em trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nhất là khi bị sởi, cúm, bạch hầu, ho gà… diễn biến trong thời gian dưới 3 tuần.
Nếu không được điều trị kịp thời và đúng phương pháp thì bệnh thường dẫn tới biến chứng nguy hiểm như:
–   Viêm tai giữa mạn tính.
–  Viêm tai xương chũm.
–  Các biến chững nội sọ như: viêm màng não, áp xe não.
–          Các biến chững mạch máu: viêm tắc tĩnh mạch bên.
–          Liêt dây VII ngoại vi.
2.1. Phân loại.
–          Viêm tai giữa cấp tính dịch thấm.
–          Viêm tai giữa cấp tính xung huyết.
–          Viêm tai giữa cấp tính có mủ.
2.2. Nguyên nhân.
2.2.1. Viêm nhiễm cấp tính ở mũi họng.
–          Xuất hiện sau các bệnh như: cúm, sởi hoặc sau các bệnh như viêm mũi, viêm xoang, viêm VA, viêm Amidan, u vòm mũi họng.
–          Căn nguyên vi khuẩn: thường do S. pneumoniae, H.influenzae, M.catarrhalis, S. aureus.
2.2.2. Sau chấn thương: gây rách, thủng màng tai như ngoáy tai bằng vật cứng, chấn thương do tiếng nổ, sức ép bom đạn…
2.2.3. Sự thay đổi áp lực: của không khí trong tai giữa và áp lực của vòm họng, áp lực tai giữa và áp lực tai ngoài.

2.3. Triệu chứng lâm sàng.
Triệu chứng của viêm tai giữa cấp tính thay đổi nhiều tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh, tình trạng cơ thể. Ở đây chúng tôi trình bày thể điển hình: viêm tai giữa cấp tính mủ ở trẻ nhỏ.
Bệnh diễn biến qua hai giai đoạn:
2.3.1. Giai đoan khởi phát: chưa có mủ trong hòm nhĩ
–          Toàn thân: Bệnh nhân trước đó mấy ngày đang bị viêm mũi họng: chảy mũi và ngạt mũi. Đột nhiên bị sốt cao 390– 400 C
–          Cơ năng: Đau tai, lúc đầu ngứa, tức ở tai, sau đau tai dữ dội, nghe kém.
–          Thực thể: Khám màng nhĩ bị xung huyết đỏ ở góc sau trên hoặc ở dọc cán xương búa hoặc ở vùng màng trùng (Shrapnell).
2.3.2. Giai đoạn toàn phát:
Thường qua hai thời kỳ: thời kỳ ứ mủ và thời kỳ vỡ mủ.
Thời kỳ ứ mủ (màng nhĩ chưa vỡ):
Triệu chứng cơ năng:
–          Nhiệt độ toàn thân tăng cao , sốt cao 39- 400 C kéo dài, thể trạng mệt mỏi, khó ngủ, sút cân… có thể co giật, mệt lả.
–          Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng thường gặp, nhất là ở hài nhi: ỉa  chảy, sống phân hoặc nôn trớ, đầy bụng, kèm theo có rối loạn tiêu hoá: với tỷ lệ 70-80% trẻ nhỏ đi ngoài sống phân và đi nhiều lần thuốc chống rối loạn tiêu hoá ít có kết quả chỉ khỏi khi  giải quyết nguyên nhân viêm tai.
–          Đau tai: đau tai dữ dội ngày càng tăng, đau sâu  trong tai, đau theo nhịp đập, đau lan ra vùng thái dương và sau tai làm cho bệnh nhân không ngủ được. em bé quấy khóc, bỏ ăn, bỏ bú, trẻ nhỏ vật vã, co giật quấy khóc, tay ngoáy vào tai đau, hoặc lắc đầu ù tai tiếng trầm.
Triệu chứng thực thể:
–          Khám màng nhĩ: toàn bộ màng nhĩ nề đỏ, không nhìn thấy cán xương búa, mấu ngắn xương búa và nón sáng. ở mức độ nặng hơn màng nhĩ phồng lên như mặt kính đồng hồ. Điểm phồng nhất thường khu trú ở phía sau.
–          Khám mũi họng: bệnh nhân đang có viêm mũi họng cấp tính.
Thời kỳ vỡ mủ (màng nhĩ bị vỡ): Thường xuất hiện vào ngày thứ 4.
Triệu chứng cơ năng: giảm dần, hết đau tai, nhiệt độ toàn thân giảm, em bé chịu chơi, hết quấy khóc.
Triệu chứng thực thể: ống tai đầy mủ, lau sạch thấy lỗ thủng màng nhĩ, lỗ thủng sẽ khác nhau tuỳ theo tai có được trích rạch hay không?
–          Nếu trích: lỗ thủng sẽ rộng và ở góc sau dưới màng nhĩ sẽ hết phồng.
–          Nếu không trích để màng nhĩ tự vỡ thì lỗ thủng có thể ở bất cứ chỗ nào, bờ dày nham nhở.
2.4. Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng lâm sàng hai giai đoạn của bệnh.
2.5. Biến chứng.
Có nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm tai xương chũm, viêm tai trong, viêm màng não, viêm não và liệt dây VII ngoại vi…
2.6. Điều trị.
Tuỳ từng giai đoạn mà có thái độ điều trị phù hợp:
2.6.1.Giai đoạn khởi phát:
Chủ yếu điều trị mũi họng.
Chống nghạt tắc mũi: tái lập lại sự thông thoáng của mũi và các lỗ thông xoang để đảm bảo dẫn lưu cho các xoang viêm, giảm sự chênh lệch về áp lực giữa trong xoang và hốc mũi.
–          Làm bớt chảy mũi
–          Điều trị viêm nhiễm
–          Đề phòng tái phát viêm xoang
Cụ thể:
–          Nhỏ mũi: bằng các thuốc co mạch làm cho mũi thông thoáng. Trước khi rỏ mũi cần xì mũi để tống các chất xuất tiết ứ đọng trong mũi (Êphêdrin, Naphasolin, dầu Gômênon) ngày rỏ từ 5-10 lần.
–          Xông thuốc: bằng cách hit hơi nước nóng có mang thuốc, hơi nóng có tác dụng giảm xung huyết niêm mạc mũi, tạo điều kiện cho thuốc có thể thấm vào các khe kẽ của mũi và có thể thấm vào xoang qua các lỗ thông mũi xoang. Các thuốc dùng để xông là dầu khuynh diệp, dầu gômênon, dầu gió thời gian xông từ 5-10 phút.
–          Khí dung mũi: phải có máy khí dung. Máy tác động phân tán dung dịch thuốc thành những hạt nhỏ (từ 1-10mm) hoà tan trong không khí. Thuốc đưa vào cơ thể theo đường khí dung có tác dụng gấp 5 lần so với đường uống hoặc đường tiêm, do đó dùng liều lượng có thể giảm xuống, khố lượng dùng là 5ml.
–          Lý liệu pháp: bằng tia hồng ngoại và sóng ngắn
Toàn thân.
–          Kháng sinh thường được sử dụng là loại gram (+): Amoxilin, co-trimazole  hoặc Erytromycin.
–          Chống viêm, giảm đau.
–          Nâng dỡ cơ thể bằng các loại sinh tố
Tại chỗ tai: rỏ Glyxerin borate 3%, Otipax…
2.6.2. Giai đoạn toàn phát.
–          Luôn theo dõi và trích màng nhĩ đúng lúc: Nếu bệnh nhân đến dã vỡ mủ thì phải làm thuốc tai hàng ngày: lau sạch mủ và rỏ thuốc kháng sinh kết hợp với điều trị mũi họng.
–          Kháng sinh toàn thân.
–          Chống viêm.
–          Nâng đỡ cơ thể.

Thuốc gia truyền Bảo Phúc

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*